Cơ cấu "dân số vàng" tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

PV  - Thứ năm, 24/12/2020, 19:25 PM
Hà Nội cùng với cả nước đang trong thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

Trong Báo cáo số 274/BC-UBND của TP. Hà Nội mới đây cho thấy, Hà Nội là thành phố đông dân thứ hai so với cả nước với dân số trung bình năm 2019 là 8.093.900 người (sau thành phố Hồ Chí Minh); dự kiến, năm 2020, dân số của thành phố khoảng 8.300.785 người, chiếm khoảng 8,4% dân số cả nước.

Toàn thành phố đã đạt mức sinh thay thế (số con bình quân/một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ -TFR là 2,1 con, tỷ suất sinh thô giảm hằng năm, tuy nhiên chưa bền vững, đặc biệt mức sinh ở 18 huyện còn cao). Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tuy có giảm so với mỗi năm nhưng chưa bền vững.

Tỷ lệ tăng dân số hằng năm ở mức cao (theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, bình quân 2,22%/năm, mỗi năm tăng khoảng 160.000 người - tương đương dân số của 1 huyện, tạo ra áp lực lớn cho kinh tế - xã hội Thủ đô.

Dan-so02

Hà Nội cùng với cả nước đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô (Ảnh: TL).

Mật độ dân số trung bình 2.398 người/km2, có sự chênh lệch lớn giữa khu vực nội thành và ngoại thành, cao gấp 8,2 lần bình quân toàn quốc 290 người/km2).

Hiện nay, Hà Nội cùng với cả nước đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Chất lượng dân số từng bước được nâng cao, thành phố phê duyệt và triển khai thực hiện đồng bộ các đề án, chương trình, kế hoạch, hoạt động mô hình về nâng cao chất lượng dân số ở 30/30 quận, huyện, thị xã và các xã, phường, thị trấn đã mang lại kết quả rõ rệt.

Về phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới, thành phố Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2025: Quy mô dân số không quá 9 triệu người vào năm 2025; giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên bình quân 0,15 %/năm.

Tỷ lệ phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất đạt 85%; tỷ lệ trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất đạt 90%; tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 85%.

Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 111,5 trẻ trai/100 trẻ gái; tỷ số phụ thuộc chung khoảng 50%; tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ đạt 90%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó, thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 66 năm; chiều cao trung bình người Hà Nội 18 tuổi đối với nam đạt 167,5cm, nữ đạt 156,5cm.

Chỉ số Phát triển con người (HDI) cao hơn bình quân cả nước; tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 55%; 98% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất trên toàn thành phố và quy mô toàn quốc.

Các chỉ tiêu đến năm 2030: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 9,8 triệu người; tỷ lệ phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất đạt 90%; tỷ lệ trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất đạt 95%.

Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt ít nhất 95%; tỷ số giới tính khi sinh 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ số phụ thuộc chung khoảng 50%; tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ đạt 95%.

Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó, thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung; chiều cao trung bình người Hà Nội 18 tuổi đối với nam đạt 169cm, nữ đạt 158cm.

Chỉ số Phát triển con người (HDI) cao hơn bình quân cả nước; tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 60%; 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất trên toàn thành phố và quy mô toàn quốc.

Để hoàn thành các chỉ tiêu trên, UBND TP. Hà Nội cũng triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp, như: tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp về công tác dân số và KHHGĐ; đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số; tăng cường đầu tư bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số và KHHGĐ.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số các cấp; triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án nhằm hoàn thành mục tiêu và các chỉ tiêu; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về công tác dân số và KHHGĐ theo quy định.

Bình luận