Lấy chồng nước ngoài có được đứng tên khi mua nhà tại Việt Nam

LS Phạm Công Anh  - Thứ sáu, 14/09/2018, 15:38 PM
Xin hỏi Luật sư, hai vợ chồng có được cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận mua nhà hay không khi mà tôi kết hôn với người nước ngoài?

Chồng tôi là người nước ngoài, tôi là người Việt Nam. Chúng tôi đã kết hôn tại Việt Nam. Hiện nay chúng tôi đang có ý định mua nhà. Xin hỏi Luật sư, hai vợ chồng có được cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận mua nhà hay không?

P.Lam ( TP. Hà nội)

3

-> Vay tiền trước khi kết hôn thì vợ có phải chịu nợ cùng không?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở thì: Cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm: căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Nghị định 99/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở thì: Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

image_6483441_585x600

Chuyên gia tư vấn Luật - Phạm Công Anh - Công ty Luật An Ninh (Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội)

Đối chiếu với các quy định trên, chồng bạn là người nước ngoài, nếu vợ chồng bạn mua nhà ở tại Việt Nam thì chỉ được cùng đứng tên sở hữu nhà ở trên giấy chứng nhận khi đó là căn hộ chung cư hoặc nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại. Còn nếu vợ chồng bạn mua nhà riêng lẻ ngoài dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại thì không được cùng đứng tên sở hữu nhà ở trên giấy chứng nhận.

Trường hợp vợ chồng bạn muốn mua nhà ở riêng lẻ ngoài dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại thì bạn có thể tự đứng tên trên Giấy chứng nhận. Tài sản nhà ở này vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Như vậy, dù có được đứng tên trong Giấy chứng nhận hay không thì quyền và lợi ích của vợ chồng bạn vẫn được pháp luật công nhận và bảo đảm.

Video Người dân nói gì về việc bỏ thói quen ăn thịt chó, mèo?

Bình luận