Người làm công tác dân tộc nỗ lực không ngừng để “Không ai bị bỏ lại phía sau”

PV  - Thứ bảy, 25/01/2020, 07:00 AM
Năm 2019 đánh dấu một năm đầy khởi sắc và nhiều thắng lợi của công tác dân tộc, trong đó nổi bật là các chỉ tiêu về kinh tế, đời sống, các chính sách an sinh xã hội của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước tăng trưởng hết sức rõ nét.

Đặc biệt tại kỳ họp thứ 8 vừa qua, Quốc hội đã đánh giá cao và thông qua “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030”. Đây là thành quả của sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị, trong đó đội ngũ làm công tác dân tộc đã đóng vai trò chủ lực hết sức quan trọng. Nhân dịp chào đón xuân mới Canh Tý 2020, Báo Gia Đình Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn ông Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc xung quanh chủ đề nói trên.

1

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến

- PV: Kính thưa Bộ trưởng, thời gian qua, công tác dân tộc đã có những chuyển biến hết sức quan trọng, đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện, nâng lên. Đó là thành quả của sự nỗ lực bền bỉ, không ngừng của đội ngũ làm công tác dân tộc. Xin Bộ trưởng cho biết vài nét cơ bản về những khó khăn, thuận lợi của công tác Dân tộc trong thời gian qua?

Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến: Trước hết phải khẳng định rằng, thời gian qua công tác dân tộc tiếp tục nhận được sự ủng hộ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Đặc biệt, các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường xuyên quan tâm, tham dự, chủ trì, trực tiếp chỉ đạo tại các sự kiện quan trọng về công tác dân tộc; tiếp tục phê duyệt, ban hành nhiều quyết sách liên quan đến vùng Dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), nổi bật là Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65/KL-TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021- 2030. Đây là những văn bản quan trọng mang tính đột phá, xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác dân tộc trong giai đoạn 2021-2030.

Bên cạnh đó các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tập trung nguồn lực thực hiện các chính sách dân tộc và chính sách an sinh xã hội; thường xuyên đi công tác địa phương nắm tình hình và có giải pháp chỉ đạo, điều hành kịp thời, cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh... trên địa bàn vùng DTTS&MN.

Thứ hai, về phía cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở cấp trung ương là Ủy ban Dân tộc: Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy, Lãnh đạo Ủy ban Dân tộc đã tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành với phương châm sâu sát, cụ thể và quyết liệt; đã bám sát và chỉ đạo kịp thời, đầy đủ việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân tộc thông qua việc xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch công tác, chương trình hành động cụ thể.

Ủy ban Dân tộc đã lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm về công tác dân tộc để tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt có hiệu quả như: tham mưu Ban Chỉ đạo Trung ương (Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc là Phó Trưởng Ban Chỉ đạo) triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ về Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc và 25 năm thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 23/9/1994 của Ban Bí thư khóa VII về một số công tác ở vùng dân tộc Mông; chủ trì xây dựng Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 báo cáo Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt; xây dựng Báo cáo đánh giá chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2020 và mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2021-2030, kế hoạch 5 năm 2021-2025 phục vụ xây dựng nội dung Văn kiện Đại hội Đảng XIII phần liên quan đến công tác dân tộc; tổng hợp, xây dựng 170 báo cáo chuyên đề, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất, cung cấp thông tin các lĩnh vực có liên quan đến công tác dân tộc, tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan có những giải pháp chỉ đạo kịp thời công tác dân tộc trong đó nhiều báo cáo có ý nghĩa quan trọng...

Thứ ba, vùng đồng bào DTTS&MN có kinh tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, đảm bảo an sinh xã hội; niềm tin của đồng bào DTTS đối với Đảng và Nhà nước được nâng lên; vùng đồng bào DTTS&MN không phát sinh các “điểm nóng”, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thế trận lòng dân trong thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh được củng cố và tăng cường.

Trong những năm qua, các địa phương vùng đồng bào DTTS&MN đều đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân các tỉnh vùng Tây Bắc tăng 8,4%, các tỉnh vùng Tây nguyên tăng 8,1%, các tỉnh vùng tây Nam Bộ tăng 7,3%/năm. Cơ cấu kinh tế bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Dần hình thành vùng sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa: cà phê, chè, cao su, tiêu, cây dược liệu, cây lấy gỗ và sản phẩm ngoài gỗ… Kết cấu hạ tầng vùng đồng bào DTTS&MN từng bước được hoàn thiện, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội từng vùng, từng khu vực: Đã có 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm; trên 98% hộ DTTS được sử dụng điện lưới quốc gia, 100% xã vùng DTTS và miền núi có trường mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở đáp ứng nhu cầu học tập của con em người dân tộc thiểu số; 99,3% xã có trạm y tế, trong đó khoảng 70% xã có bác sỹ chăm sóc sức khỏe nhân dân; trên 90% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình, kết nối thông tin liên lạc hiện đại; 100% xã đã có điện thoại cố định và di động cung cấp các dịch vụ viễn thông và Internet. Hộ nghèo ở các huyện 30A, các xã đặc biệt khó khăn giảm 3%-4%/năm, có nơi giảm trên 5%; các tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống đã có trên 90% người dân được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc các cấp đã nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ, nêu cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong thực thi nhiệm vụ.

Tuy nhiên bên cạnh thành tích đã đạt được, công tác dân tộc hiện nay còn gặp một số khó khăn nhất định, đặc biệt là những khó khăn, hạn chế mang tính chất khách quan như: Xuất phát điểm của vùng đồng bào DTTS&MN thấp, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, chất lượng nguồn nhân lực thấp, rất khó khăn trong việc thu hút đầu tư, lao động thiếu việc làm, thu nhập thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao đang là thách thức lớn; Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, thiên tai, bão lũ ảnh hưởng rất lớn đến vùng đồng bào DTTS&MN sinh sống làm cho đời sống của đồng bào DTTS đã khó khăn lại càng khó khăn thêm; Nhu cầu về cơ sở hạ tầng lớn trong khi nguồn lực thực hiện chính sách còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, dẫn đến việc một số chính sách được ban hành nhưng không được phân bổ vốn để thực hiện; Các thế lực thù địch liên tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dẫn đến một số địa bàn vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh, trật tự.

Bên cạnh đó còn có một số khó khăn, hạn chế đối với công tác dân tộc mang tính chủ quan như: Hệ thống chính sách phát triển KT-XH dành cho vùng đồng bào DTTS&MN chưa thực sự đồng bộ; cơ chế thực thi chính sách còn thiếu những đổi mới mang tính đột phá, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp đôi khi còn chưa chặt chẽ, hiệu quả; Phân định vùng đồng bào DTTS&MN theo trình độ phát triển còn bất cập, định mức đầu tư còn thấp; Bộ máy theo dõi công tác dân tộc thiếu ổn định, thống nhất từ Trung ương đến địa phương... Tuy nhiên với việc ban hành và triển khai những quyết sách lớn về chính sách dân tộc như Kết luận số 65/KL-TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, trong thời gian tới những khó khăn, vướng mắc nêu trên, nhất là những khó khăn, vướng mắc mang tính chủ quan sẽ cơ bản được giải quyết triệt để.

2

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến trao bằng khen cho các cán bộ dân tộc ở Đắk Lắk

- PV: Tại kỳ họp thứ 8 khóa 14 Quốc hội đã đánh giá cao và thông qua “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030”. Đây là sự kiện mang tính lịch sử, không chỉ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi mà còn là bước đột phá mạnh mẽ đối với những người làm công tác dân tộc. Thưa Bộ trưởng, để nói vài điều ngắn gọn nhất thì đồng bào các dân tộc sẽ được hưởng lợi gì từ “Đề án” này?

Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến:  Ngày 18/11/2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 với số phiếu rất cao (432/434 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành). Đây là sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS&MN.

Để diễn đạt vài điều ngắn gọn nhất thì Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 sẽ chuyển tải “niềm tin” tới đồng bào các dân tộc, niềm tin vào sự tự vượt khó, vươn lên thoát nghèo, niềm tin vào nội lực, ý thức tự lực tự cường của bản thân mình. Nhưng không chỉ có duy nhất “niềm tin”, đồng bào các dân tộc thuộc diện thụ hưởng Đề án sẽ được hỗ trợ những điều kiện cần thiết nhất để chuyển tải “niềm tin” đó thành sự thật, đó là: được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống; được hỗ trợ giải quyết những nhu cầu bức thiết về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; được hỗ trợ về giáo dục, y tế; được hỗ trợ đào tạo nghề hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số; được hỗ trợ bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc...

- PV: Có một câu hỏi mà bạn đọc Báo Gia Đình Việt Nam rất quan tâm đó là tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Dù còn không ít những điều nhức nhối, song thời gian qua công tác này đã có những chuyển biến rất tích cực. Bộ trưởng có thể cho biết, để đẩy lùi thực trạng hôn nhân cận huyết thống và tảo hôn chúng ta cần có những biện pháp căn cơ gì?

Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến:  Những năm gần đây, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống nhìn chung có giảm trên quy mô toàn quốc, nhưng vẫn diễn ra khá phổ biến ở vùng nông thôn miền núi, nơi có đông đồng bào DTTS sinh sống. Theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS công bố năm 2016, tỷ lệ tảo hôn của các dân tộc thiểu số lên đến 26,6%. Có 6 dân tộc có tỷ lệ tảo hôn rất cao, trên 50% như Ơ Đu (73%), Mông (59,7%), Xinh Mun (56,3%), La Ha (52,8%), Brâu và Rơ Măm (50%); 13 dân tộc có tỷ lệ tảo hôn từ 40% đến dưới 50% và 11 dân tộc từ 30% đến dưới 40% và 10 dân tộc từ 20% đến dưới 30%. Đối với hôn nhân cận huyết thống, tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống trung bình của đồng bào các dân tộc thiểu số là 6,5‰, nhưng một số dân tộc có tỷ lệ này rất cao, cụ thể: tỷ lệ hôn nhân cận huyết của người Mạ, Mảng và Mnông lên đến trên 40‰, Xtiêng (36,7‰), Cơ Tu (27,7‰), Khơ Mú (25‰), 11 dân tộc có tỷ lệ hôn nhân cận huyết từ 10‰ đến dưới 20‰ như Cơ Ho (17,8‰), Chứt (16,8‰), Kháng (16‰), Khmer (15,9‰), Chăm (15,6‰)...

Hậu quả của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, làm suy giảm nòi giống và chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguy cơ tử vong của trẻ sơ sinh. Đây là một trong những lực cản của phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vững của vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời, là rào cản đối với việc hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết thực hiện.

Trước thực trạng nêu trên, Ủy ban Dân tộc đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS giai đoạn 2015-2025”. Mục tiêu là giảm bình quân từ 2 đến 3%/năm số cặp tảo hôn và từ 3 đến 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với địa bàn DTTS có tỷ lệ cao; đến năm 2025, cơ bản hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng DTTS. Việc triển khai Quyết định số 498/QĐ-TTg đã dẫn đến chuyển biến tích cực trong giải quyết tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng đồng bào DTTS&MN.

Hằng năm, UBDT triển khai các hoạt động chỉ đạo như: ban hành văn bản hướng dẫn cơ quan công tác dân tộc các địa phương triển khai thực hiện Đề án, tổ chức tập huấn, kiểm tra tình hình triển khai thực hiện, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức các hoạt động truyền thông, tuyên truyền thực hiện Đề án; xây dựng các chuyên trang/chuyên mục tuyên truyền về tảo hôn/hôn nhân cận huyết thống; biên soạn, in ấn một số tài liệu truyền thông về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống để cung cấp cho 47 Cơ quan công tác dân tộc các tỉnh, thành phố làm tài liệu tuyên truyền tại cơ sở…

Chỉ riêng trong năm 2019, 25 câu lạc bộ và 31 mô hình điểm tuyên truyền về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đã được thành lập và đi vào hoạt động, đã tổ chức 11 lớp tuyên truyền, phổ biến về dân số và kế hoạch hóa gia đình, tư vấn hướng dẫn về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản... cho hàng ngàn đồng bào dân tộc trong đó có phụ huynh, học sinh và thanh thiếu niên dân tộc thiểu số. Qua thống kê 8.270 cặp kết hôn năm 2019 trên địa bàn 38 tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN có 627 cặp kết hôn tảo hôn, chiếm tỷ lệ 7,58% (trong đó toàn bộ là trường hợp 1 người tảo hôn).

Vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được cho là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do trình độ giáo dục thấp, địa bàn sinh sống biệt lập, người dân ít có cơ hội giao lưu, trao đổi, hội nhập với bên ngoài, cùng với đó là tập quán kết hôn, hiểu biết chưa đầy đủ về hậu quả của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.... Vì vậy, giải pháp giải quyết tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số cần phải được xác định theo hướng kiên trì, lâu dài và toàn diện, trong đó tạo ra động lực cho các dân tộc thiểu số hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp căn bản cần được quan tâm.

Bên cạnh đó, các giải pháp căn bản là biên soạn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông, tài liệu tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật liên quan về hôn nhân và gia đình trong vùng dân tộc thiểu số phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc; đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, thay đổi hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tập trung đào tạo đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở, đặc biệt hướng tới các đối tượng học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông... và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các tổ chức chính trị - xã hội, già làng, trưởng bản, người có uy tín, nghệ nhân dân gian trong vùng dân tộc thiểu số; tăng cường các hoạt động tư vấn, can thiệp, nghiên cứu, ứng dụng, triển khai nhân rộng các mô hình, bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước phù hợp nhằm thay đổi hành vi, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và huy động sự tham gia của cộng đồng nhằm thực hiện ngăn ngừa, giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

3

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến dự Lễ kỷ niệm 35 năm Thành lập Trường Phổ thông

- PV: Cùng với sự phát triển chung của đất nước, những năm qua đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều đổi thay tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực ấy, có những nét văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt, ví như tết cổ truyền, các lễ hội... Để giúp bà con vừa nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa giữ gìn được bản sắc của dân tộc mình, theo Bộ trưởng nhà nước cần có chính sách cụ thể gì để đời sống của đồng bào được vẹn cả đôi đường?

Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến: Bản sắc văn hóa dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng... được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc mình.

Đúng như nhận định của Báo Gia Đình Việt Nam, cùng với sự phát triển chung của đất nước, những năm qua đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều đổi thay tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực ấy, có những nét bản sắc văn hóa truyền thống của một số dân tộc đang dần phai nhạt, ví như số người không biết nói tiếng dân tộc của mình ngày càng tăng, dân ca, dân vũ, nhạc cụ, trang phục truyền thống của một số DTTS chỉ được phục dựng và sử dụng khi tổ chức lễ hội, ít được diễn ra trong đời sống hàng ngày... Để giúp bà con vừa nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa giữ gìn được bản sắc của dân tộc mình, Nhà nước cần có các chính sách, giải pháp mang tính vĩ mô và sự vào cuộc quyết liệt của tất cả các ngành, các cấp, các địa phương và cộng đồng, cụ thể cần tập trung vào một số chính sách chủ yếu sau:

Chính sách hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nâng cao tinh thần tự hào dân tộc, ý thức tự giác của đồng bào dân tộc trong bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Khảo sát điều tra, phân loại các loại hình văn hóa hiện nay của các dân tộc thiểu số. Đánh giá mức độ cần thiết ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần trong cộng đồng để đầu tư phát triển kịp thời, hợp lý. Xây dựng các chương trình giáo dục về xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa.

Chính sách hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.

Chính sách hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc thiểu số.

Chính sách hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chính sách bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc như lễ Đại Phan của người Sán Dìu, lễ hội Gầu Tào của người Mông, Lễ hội Hết Chá của người Thái, lễ tết nhảy của người Dao, lễ hội hát then của người Tày, lễ hội Katê của người Chăm, lễ cầu an của người Bana, lễ hội Ok Om Bok của người Khmer..., tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.

Huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước; xây dựng cơ chế khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời với việc nghiên cứu, ban hành chính sách quản lý và sử dụng các nguồn tài chính từ xã hội hóa theo hướng công khai, minh bạch.

- PV: Năm 2020 được coi là tiền đề cho giai đoạn mới trong phát triển kinh tế, xã hội của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Ủy ban Dân tộc đã có những chương trình hành động cụ thể như thế nào cho năm bản lề này thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến: Năm 2020 là năm cuối cùng của giai đoạn 2016-2020, là năm bản lề để đất nước chuẩn bị bước vào một giai đoạn 2021-2025 - giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đứng trước vận hội mới, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, công tác dân tộc cũng còn một số bất cập, hạn chế. Hiện nay, vùng DTTS&MN là vùng được Quốc hội và Chính phủ đánh giá có 5 điều nhất: điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, KT-XH phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất. Đời sống của bà con các dân tộc còn nhiều khó khăn, thiếu việc làm, thu nhập thấp; thiên tai, dịch bệnh bất thường; chịu nhiều tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu; tỷ lệ trẻ em bỏ học còn cao; một số phong tục, tập quán lạc hậu chưa được đẩy lùi… Đó là những thách thức lớn, đòi hỏi những người làm công tác dân tộc phải nỗ lực hơn nữa, vượt qua mọi khó khăn trở ngại, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN; “Không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Để giải quyết những bất cập, hạn chế tại địa bàn vùng DTTS&MN đã nêu trên đây, trong Chương trình hành động năm 2020, Ủy ban Dân tộc sẽ tiếp tục chủ động thực hiện thật tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước, với các nhiệm vụ trọng tâm:

- Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, Chính phủ, Quốc hội; các quyết định, văn bản chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến công tác dân tộc; trọng tâm là đưa Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết 88 2019/QH14 của Quốc hội và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đi vào cuộc sống, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tham mưu xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2020) để thực hiện từ năm 2021.

- Thứ hai, tăng cường quản lý, chỉ đạo thực hiện các chính sách dân tộc hiện hành, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc ở địa phương trong triển khai thực hiện chính sách dân tộc, nắm chắc tình hình địa bàn vùng DTTS&MN, không để xảy ra các điểm “nóng”, vụ việc nổi cộm phát sinh. Tổ chức sơ kết, tổng kết các chính sách, chương trình, dự án hết hiệu lực sau năm 2020.

- Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; thông tin, tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS; hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học về công tác dân tộc; thanh tra, kiểm tra trong thực hiện các chính sách dân tộc.

- Thứ tư, rà soát, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Xin cám ơn Bộ trưởng!

-> Ủy ban Dân tộc tổng kết công tác năm 2019, khen thưởng nhiều tập thể, cá nhân

Bình luận