Sống chung không đăng ký kết hôn, có phải chia tài sản khi chia tay?

Thứ tư, 06/03/2019, 11:50 AM

Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Bạn đọc Nguyễn Lan – Hà Nội đặt câu hỏi:  Năm nay em 28 tuổi, người yêu 30 tuổi. Em và anh ấy đã chung sống như vợ chồng với nhau được 3 năm, có một số tài sản chung như ô tô, tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng,... Gần đây, em và người yêu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh ấy liên tục rượu chè và đánh đập em, em không còn muốn tiếp tục chung sống với anh ấy nữa. Đề nghị luật sư tư vấn, theo quy định của pháp luật, em và anh ấy không đăng ký kết hôn thì tài sản chung sẽ được chia như thế nào?

Luat su Hoi Cong ty Luat TNHH Everest (4)

Để trả lời câu hỏi của chị, chúng tôi trích đãn một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

(i) "Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". (Khoản 5 Điều 3)

(ii) “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. (khoản 7 Điều 3)

(iii) “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. (khoản 1 Điều 9)

(iv) “Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”. (khoản 2 Điều 9)

(v) "Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…” (khoản 1 Điều 14)

Do chị và người yêu đã chung sống với nhau như vợ chồng được 3 năm nhưng không đăng ký kết hôn nên theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trường hợp nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng nên quan hệ hôn nhân giữa hai chị và anh không phát sinh. Tài sản chị và anh  tạo dựng được trong thời gian sống chung sẽ không được áp dụng theo chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Khi chị và anh muốn giải quyết các vấn đề về chia tài sản thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi giải quyết, Tòa án sẽ căn cứ theo các quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để phân chia tài sản:

"Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn: (i) Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. (ii) Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”

Việc phân chia tài sản của chị Nguyễn Lan và người yêu trước hết sẽ ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận giữa chị và anh; Trong trường hợp hai anh chị không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chị và con (nếu có).

Như vậy, khi chị và anh chia tay nhau, ngoài các tài sản hai bên đã tự thỏa thuận được, thì các tài sản còn lại được giải quyết theo nguyên tắc: (i) Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; (ii) Tài sản chung chia theo quy định của quy định của Bộ luật dân sự.

Các bên sẽ đưa ra các chứng cứ để chứng minh mình có quyền sở hữu riêng đối với tài sản đó. Ví dụ như: giấy chứng nhận quyền sở hữu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu như đất đai, nhà cửa, xe ô tô ... hoặc những tài liệu chứng cứ khác chứng minh nguồn gốc tài sản như sao kê tài khoản, bảng lương, phiếu chi tiền, hóa đơn mua hàng hóa, hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho...

Tài sản chung nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015: " (i) Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; (ii) Khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình; (iii) Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán."

Bình luận